Thứ Bảy, 12 tháng 7, 2014

ĐỘC TIỂU THANH KÝ


TỐ NHƯ KHÓC ĐỜI…!!!
Thưa các bạn!
Sắp tới kỷ niệm 250 năm ngày sinh của Đại Thi hào Nguyễn Du (1765 – 2015) và để giúp các bạn trẻ chuẩn bị thi môn Văn trong các dịp kết thúc năm học cũ; chúng tôi sưu tầm một số tư liệu và tự cảm về bài thơ “khóc đời” độc đáo của cụ Nguyễn Du.
讀 小 青 記
ĐỘC TIỂU THANH KÝ
西 湖 花 苑 賮 成 墟
Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư
獨 吊 窗 前 一 紙 書
Độc điếu song tiền nhất chỉ thư.
脂 粉 有 神 憐 死 後
Chi phấn hữu thần liên tử hậu
文 章 無 命 累 焚 餘
Văn chương vô mệnh luỵ phần dư
古 今 恨 事 天 難 問
Cổ kim hận sự thiên nan vấn
風 韻 奇 冤 我 自 居
Phong vận kì oan ngã tự cư.
不 知 三 百 餘 年 後
Bất tri tam bách dư niên hậu
天 下 何 人 泣 素 如
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?
========================
Giải nghĩa:
Tây Hồ là một vùng danh lam thắng cảnh đẹp thuộc tỉnh Triết Giang Trung Quốc ở đó có nhiều vườn hoa đẹp (hoa uyển) nhưng đã bị biến đổi như thể gò hoang.( Tẫn – Đồ cống nạp quý báu nay thành Khư – rác rưởi nơi gò bãi hoang vu tàn lụi).
Một mình ngồi bên song cửa đọc mảnh giấy có bài thơ còn xót lại trong đống tro tàn.
Phấn sáp là vật vô tri nhưng dù có thổi hồn vào về sau cũng chết.
Văn chương không có mệnh số như con người dù có đốt cháy vẫn còn vương lại cùng thời gian.
Từ bao đời nay việc tủi hận hỏi trời cũng khó lý giải nổi.
Thói đời vận số kỳ lạ oan trái tự mình phải liệu lường thôi.
Không biết sau hơn ba trăm năm nữa.
Người trong thiên hạ có ai thương khóc Tố Như (Nguyễn Du).
DỊCH THƠ
Tây hồ cảnh đẹp hóa thê lương.
Tưởng viếng người xưa… có tỏ tường?
Son phấn bẽ bàng thần chẳng mất.
Văn chương đốt dở mệnh còn vương.
Thói đời tủi hận trời khó hỏi.
Sự thế oan gia dạ tự lường.
Không biết ba trăm năm lẻ nữa.
Tố Như! Ai khóc, mấy người thương?
Chuyển Lục Bát:
Tây hồ giờ hóa gò hoang
Bên cửa viếng nàng… giấy đốt dở dang
Phấn son thần sắc bẽ bàng
Văn chương đoản mệnh lại càng xót thương
Sao trời nỡ giáng tai ương
Tài hoa oan trái khó lường phân minh
Ba trăm năm lẻ sau mình
Còn ai vọng cảm, vương tình Tố Như?
-------------------------------------------
Sau đây là một số thông tin về bài thơ này tôi sưu tầm và chuyển tới các bạn để cùng suy ngẫm thêm.
Tương truyền Phùng Tiểu Thanh là một cô gái Trung Quốc sống khoảng đầu thời Minh, nhiều ý kiến cho rằng nàng là người Dương Châu, con nhà gia thế, tên chữ là Phùng Huyền Huyền. Vốn thông minh nên từ nhỏ nàng đã thông hiểu các môn nghệ thuật cầm kì thi hoạ, lại có phong tư lộng lẫy hơn người. Năm 16 tuổi, nàng được gả làm vợ lẽ cho Phùng Sinh, một công tử nhà gia thế. Vợ cả tính hay ghen lại cay độc, bắt nàng ra sống riêng trên Cô Sơn, gần Tây Hồ. Vì đau buồn, nàng sinh bệnh rồi qua đời khi mới tròn mười tám xuân xanh. Nhưng đau khổ muộn phiền được gửi gắm vào thơ nhưng phần lớn bị vợ cả đem đốt hết, may mắn còn một số bài sót lại. Người ta cho khắc in số thơ đó, đặt là Phần dư tập.
Thương xót, đồng cảm với số phận của người con gái tài tình mà bạc mệnh, Nguyễn Du viết ra bài thơ này. Những người phụ nữ có tài có sắc nhưng đường đời truân chuyên bất hạnh cũng là cảm hứng lớn trong sáng tác của Nguyễn Du.
Có nhiều ý kiến khác nhau về thời điểm ra đời của bài thơ này. Theo chúng tôi bài thơ ra đời sau khi Nguyễn Du đọc tập Ký của văn học Trung Hoa viết về: “Phần dư tập” trong thời gian đi sứ lần thứ nhất, nhưng mãi đến khi ông qua đời (1820) người nhà mới tìm thấy và coi đó như lời trăng trối của ông để lại cho đời sau.
Sinh thời, Nguyễn Du là một người cực cô độc, cô đơn. Không phải vô cớ trong Truyện Kiều Nguyễn Du từng thốt lên qua lời nhân vật mà ông đặc biệt yêu thương quý trọng và kính trọng là Thúy Kiều rằng: Vui là vui gượng kẻo là – Ai tri âm đó mặn mà với ai? Rồi trong giai thoại trước khi mất, ông khẩu chiến bằng hai câu thơ kết của bài thơ mà tôi sẽ bàn dưới đây; lại một giai thoại khác: ông ốm nặng, không chịu uống thuốc, khi đã giá đến đầu gối, người nhà hỏi ông có trăng trối gì không, ông chỉ nói: “Được” rồi mất... Giai thoại chỉ là giai thoại, nhưng nó vẫn có hạt nhân hiện thực của nó. Mỗi thiên tài là một đỉnh Êvơret. Vả lại, cái thời điểm tam bách dư niên hậu như nhà thơ ao ước chưa đến, mà tôi thì không thể sống được đến lúc ấy. Thiết nghĩ trong cõi đời, việc hiểu người như hiểu mình là cực khó, chỉ có trong muôn một, hiểu được thiên tài còn khó gấp bội. Phải chăng câu chuyện tri âm dường như chỉ tồn tại trong điển cố? Nó là một khao khát cháy bỏng của con người hơn là một hiện thực? Còn nhớ khi thuyết tương đối rộng được công bố, một học giả gặp Anhxtanh nói rằng:
- Thưa ngài, ngài thật là một người hạnh phúc, bởi có một người đã hiểu được thuyết tương đối của ngài.
Tác giả của thuyết tương đối lịch sự trả lời như sau:
- Thật cảm ơn ngài! Nhưng thưa ngài! Tôi còn đang băn khoăn không biết người đó là ai?
Đó chính là lí do mà tôi không dám nhận mình tri âm với bậc đại thi hào số một của dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Du. Bài viết này chỉ mong được giãi bày những suy tư của cá nhân về một trong những bài thơ vào loại hay nhất, viết về thể tài thương tiếc những người có tài năng, nhân cách, những giai nhân tuyệt sắc trong thơ Nguyễn Du mà thôi.
Cho đến nay, vấn đề thời điểm ra đời chính xác của thi phẩm này vẫn còn là một tồn nghi trong giới nghiên cứu. Người thì cho rằng bài thơ được Nguyễn Du viết khi chưa đi sứ nên đưa vào Thanh Hiên thi tập; người thì cho rằng Nguyễn Du làm khi đi sứ Trung Quốc, vì vậy đưa vào tập thơ Bắc hành tạp lục; người thì cho rằng nó được làm khi tác giả đã trở về nước, nên đưa vào tập thơ Nam trung tạp ngâm. Mỗi bên đều có những lí lẽ riêng để bảo vệ quan niệm của mình. Đây là tình trạng khá phổ biến của các văn bản ngữ văn thời trung đại ở ta. Vấn đề đặt ra với những người sáng tác và trước thuật hôm nay là trong mỗi sáng tạo của mình nên ghi cụ thể thời điểm, địa điểm ra đời, để độc giả nói chung, giới nghiên cứu nói riêng tiết kiệm được công sức khi tiếp nhận. Nhưng không phải vì vậy mà việc giải mã bài thơ rơi vào tình trạng bất khả tri.
Về cách dịch nhan đề bài thơ: Bài thơ vốn có tên: Độc Tiểu Thanh kí (讀小青記), khi dịch ra tiếng Việt, các bản dịch đều dịch là Đọc Tiểu Thanh kí. Như vậy, chỉ dịch độc (讀) thành đọc, còn những chữ khác vẫn để nguyên. Cách dịch này khiến nhiều người lầm tưởng khi còn sống Tiểu Thanh có viết kí (ghi chép, còn là một thể loại trong văn học cổ trung đại phương Đông). Nguyễn Du đã đọc kí này của Tiểu Thanh và ai điếu người đàn bà sắc tài yểu mệnh có tên trong nhan đề bài thơ). Sự thật Tiểu Thanh chỉ làm thơ mà không hề viết kí; kí (thực ra là truyện) do người đời sau ghi chép lại về hành trạng cuộc đời nàng, mà có lẽ khi đi sứ Nguyễn Du đã đọc trước khi đi sứ hay đã đọc khi đi sứ hay đi sứ về nước rồi mới đọc?... Chúng tôi đề nghị nên chăng dịch là: Đọc kí (ghi chép) về Tiểu Thanh? Tuy không giữ nguyên cấu trúc ngữ pháp của nguyên tác, nhưng lại thể hiện chính xác sự thật về nàng Tiểu Thanh mà thư tịch cổ của nước người ta ghi lại và chuyển đúng thần thái của điều Tố Như muốn nói. Cách dịch nhan đề hiện nay của bài thơ rõ ràng chỉ dịch được phần xác chữ mà bỏ mất phần hồn của nó. Cũng tương tự như cách dịch nhan đề Nam Xương nữ tử trong Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ. Đến nay tất cả mọi người đều công nhận cách dịch Người con gái Nam Xương. Tất cả các nhà xuất bản trong nước từ trước tới giờ, khi in và phát hành tác phẩm của Nguyễn Dữ đều nhất trí… trăm phần trăm (!). Nó đúng là sự chuyển ngữ chứ chưa phải là chuyển mã văn hóa. Nữ tử là người con gái, trớ trêu, oái oăm thay, nhân vật Vũ Thị Thiết là gái đã có chồng (Trương Sinh) và có con (bé Đản). Trong tiếng Việt, chỉ những người còn thanh tân, chưa hề lấy chồng mới được gọi là con gái. Vì vậy đề nghị nên dịch là Người thiếu phụ Nam Xương cho đúng.
Hai câu mở đầu bài thơ đã cho thấy người viếng và người chết đều cô độc, cô đơn. Ý tứ đọng lại trong hai chữ độc điếu (獨吊) mà các bản dịch nghĩa của các dịch giả đều dịch là một mình (Trước song một mình viếng một tập giấy,Một mình ngồi trước cửa sổ viết một tờ thư viếng, Chỉ viếng nàng qua một tập sách đọc trước cửa sổ... (Chữ độcở tên bài thơ có nghĩa là đọc, còn chữ độc này lại có nghĩa là một mình, cô đơn, cô độc, một chữ có tần số xuất hiện khá nhiều trong Đường thi). Nếu dịch độc là một mình e không ổn, vì một mình chưa chắc đã cô đơn, cô độc. Thật là cách mở đề kiểu khai môn kiến sơn. Bài thơ đã mở ra mênh mang tâm trạng.
Hai câu luận:
Cổ kim hận sự thiên nan vấn
Phong vận kì oan ngã tự cư
Đây có lẽ là một trong những câu thơ ám ảnh nhất trong những câu thơ của cụ Nguyễn Du. Không ngẫu nhiên chút nào khi các bản dịch Độc Tiểu Thanh kí của các dịch giả khác nhau, tuy có nét tiểu dị nhưng đều gặp gỡ trên đại đồng.
Cụ Bùi Kỉ dịch như sau:
Sự oán hận xưa nay khó mà hỏi trời được
Oan lạ của người phong vận kia tự mình ta buộc lấy mình.
Cụ Đào Duy Anh dịch là:
Mối hận cổ kim khó mà hỏi trời
Oan lạ của người phong vận ta cũng tự thấy có mình ở trong ấy.
Ông Vũ Tam Tập cũng dịch:
Những mối hận cổ kim khó mà hỏi trời được
Ta tự coi như người cùng một hội với kẻ mắc nỗi oan lạ lùng vì nết phong nhã.
Từ cuộc đời đau khổ hồng nhan đa truân, sắc tài mệnh yểu của Tiểu Thanh (1594-1612) sống vào triều đại Minh bên Trung Hoa, Nguyễn Du (1765-1820), với sức đồng cảm lạ thường của người có cặp mắt trông suốt sáu cõi, tấm lòng nghĩ tới ngàn đời đã khái quát thành một trong những qui luật của muôn đời.
Hận, oan vốn là những chữ, những khái niệm thường dùng trong văn chương thời cổ trung đại ở phương Đông. Cổ nhân dùng chúng để biểu hiện những cung bậc, những sắc thái khác nhau của nỗi buồn nhân thế, thời thế và thân thế. Đó cũng là những chữ mà người xưa dùng để thể hiện sự tự ý thức về bản ngã. Hận là nỗi đau đớn tột cùng không thể giải tỏa, không thể sẻ chia vì những giá trị, những năng lực, những tài năng, phẩm giá... của con người bị lãng quên, bị phí hoài, bị xỉ nhục và lăng mạ. Oan là sự tự ý thức của cổ nhân về các giá trị người bị chà đạp, bị kết tội một cách thậm vô cớ và vô lí. Trong thơ mình, Nguyễn Du chủ yếu thể hiện nỗi đau đứt ruột, xé lòng trước những đau khổ bất hạnh về tâm và thân của những giai nhân tài tử rơi vào cảnh đời ngang trái , bởi tài mà không được gặp gỡ, tình mà không được hả hê (Mộng Liên Đường chủ nhân), Ai tri âm đó mặn mà với ai- Nỗi mình thêm tức nỗi nhà -Thân sao bướm chán ong chường bấy thân - Biết thân đến bước lạc loài... (Truyện Kiều).
Nỗi đau, nỗi oan của con người, niềm uất hận của những bậc kì tài tuyệt sắc trong thiên hạ xưa đã có, nay cũng có và có lẽ không bao giờ hết được. Nỗi đau ấy, niềm uất hận ấy đến trời cũng không có lời giải đáp. Câu thơ là sự tổng kết, sự nghiệm sinh của thi nhân về chính mình và của biết bao kiếp tài hoa, biết bao kiếp người đau khổ trên cõi nhân gian bé tí này. Nguyễn Du từng điếu Khuất Nguyên (340-278 TCN) bằng Phản chiêu hồn. Thi nhân Việt Nam không muốn tác giả Li tao trở về. Về làm gì hỡi hương hồn Khuất Nguyên! Mặt đất giờ đây, đâu đâu cũng là sông Mịch La, người đời ai ai cũng là Thượng Quan, họ ra vào cười cười nói nói như ông Cao, ông Quì không để lộ nanh vuốt, nhưng nhai xé thịt ngưòi ngọt xớt như đường. Hà cớ gì mà Khuất Bình phải nhảy xuống sông Mịch La tự tử? Bởi cả đời đục riêng một mình ông trong, bởi cả đời say riêng một mình ông tỉnh. Tố Như cũng từng khóc Thánh thi Đỗ Phủ (712-770), người được ông tôn vinh là Thiên cổ văn chương thiên cổ sư với day dứt không nguôi: Phải chăng vì thơ hay mà đời khổ? - Phải chăng vì đời khổ mà thơ hay? Trở về với đất nước mình, Nguyễn Trãi chỉ vì Một niềm trung mấy hiếu - Mài chăng khuyết nhuộm chăng đen - Đêm ngày cuồn cuộn nước triều Đông, chỉ vì tiên ưu hậu lạc mà bị cái án oan thảm khốc tru di tam tộc, khiến người anh hùng phải di hận kỉ thiên niên. Trong thơ chữ Hán của mình, Nguyễn Du còn thổn thức nỗi niềm đau khổ của Tỉ Can, Nhạc Phi, Dương Quí Phi, của cô Cầm (Long thành cầm giả ca), của mấy mẹ con người đàn bà trong Sở kiến hành... Hai lần trong Truyện Kiều và trong Văn tế thập loại chúng sinh Nguyễn Du đã cất lên Tiếng kêu đứt ruột mới:
Đau đớn thay phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.
……………………………………
Đau đớn thay phận đàn bà
Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?
Hỡi ôi! Thân ấy biết là mấy thân (Tố Hữu). Có điều mấy thân cũng chỉ có kiếp đàn bà. Còn trong Độc Tiểu Thanh kí là: cổ kim hận sự, là phong vận kì oan của mọi kiếp người. Cổ nhân có câu:
Mĩ nhân tự cổ như danh tướng
Bất hứa nhân gian kiến bạch đầu.
Tạm dịch:
Người đẹp xưa nay như danh tướng
Trời xanh chẳng để sống bạc đầu.
Mệnh đề tài mệnh tương đố không chỉ có ý nghĩa tiên nghiệm, tiền định, ở thời Nguyễn Du, mệnh đề này có một nội dung xã hội khá cụ thể. Đây là thời đại xuất hiện hàng loạt tài năng lớn về nhiều phương diện. Ông vua chuyên chế phong kiến phương Đông luôn cảnh giác trước tài năng, nhất là cái tài kinh bang tế thế. Người có tài có thể làm lu mờ đấng tối cao, thậm chí có thể cướp ngôi. Chế độ xã hội ấy chỉ chấp nhận người cúc cung tận tụy, thậm chí cuồng tín, ngu tín trước ông vua. Không phải ngẫu nhiên mà trong các phim cổ trang nước Tàu, lúc nào kẻ bề tôi cũng luôn luôn lặp lại cái câu cửa miệng “Hoàng thượng sáng suốt (!)”, kể cả khi hoàng thương rơi vào tình thế bi hài nhất, kể cả khi hoàng thượng ngu tối ban cho kẻ tôi trung chén thuốc độc hay giải lụa (Cảm ơn hoàng thượng ban chết (!). Thật là cười ra nước mắt. Cái tài nhiều khi bị đem ra mua vui cho thiên hạ, bị sỉ nhục, bị lăng mạ. Vì vậy, người xưa mới đề cao tấm lòng biệt nhỡn liên tài.. Chắc chắn Nguyễn Du không thể không biết đến số phận bi thảm của Huy Quận công Hoàng Đình Bảo, Cống Chỉnh, Ngô Thì Nhậm, Đặng Trần Thường, Lê Văn Duyệt, cha con Nguyễn Văn Thành... rồi gia cảnh nhà ông khi kiêu binh nổi loạn ở kinh thành Thăng Long, ông cũng từng chứng kiến cảnh những người tài sắc bị kẻ có tiền và có quyền khinh bỉ, tài sắc bị biến thành một món hàng, một thứ đồ chơi (Long Thành cầm giả ca); đặc biệt là những nghiệm sinh về thân phận của chính mình trong mười năm cát bụi. Quả là: Có tài mà cậy chi tài - Chữ tài liền với chữ tai một vần. Thời ấy kẻ có tài năng thường thị tài, cậy tài, khoe tài mà quên mất câu nhắc nhở của cổ nhân:thông minh thánh trí thì giữ mình bằng ngu độn, muốn giữ được đầy thì đổ bớt đi. Ta hiểu vì sao, tuy là chú vợ vua, ở vào bậc á khanh, hoạn lộ khá hanh thông mà mỗi khi vào chầu, vua hỏi tới việc gì ông cũng chỉ vâng dạ cho phải phép. Đã làm quan thì cái cười cái nói cái đi cái đứng đều phải tính toán mà. Câu tổng kết dân gian: ngu si hưởng thái bình, ngẫm ra thấy quả có lí. Những kẻ chỉ luẩn quẩn trong vòng mũ áo, trong cuộc tỉnh say dẫu có gặp cái cảnh thanh nhàn như hoa thơm buổi sáng, trăng tỏ ban đêm cũng trơ trơ như cỏ cây, như cá chim, lại thường được sống trọn tuổi trời. Kì lạ thay, bất công, ngang trái và oan trái thay! Nhưng đó lại là một sự thực hiển nhiên.
Thế mới thấy tầm khái quát, thế mới thấy tình thương Nguyễn Du dành cho thân phận con người mênh mông nhường nào. Con người đặc biệt là người tài, người đẹp chính là sự kết tinh những phẩm giá người cao nhất, lại thường đau khổ. Mang cái tài cái đẹp chính là mang cái mầm mống của khổ đau, mang cái bản án của định mệnh phũ phàng nghiệt ngã... Ngay từ cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX, Nguyễn Du đã chỉ ra sự bất công của Tạo hoá, sự đành hanh của máy trời. Thương người như thể thương thân, thương thân như thương người, phải chăng đó là Nguyễn Du? Ông đã nhìn ra trong nỗi đau của đồng loại nỗi đau của chính mình, và trong nỗi đau của chính mình, ông thấy được nỗi đau của đồng loại. Giọt nước mắt khóc nàng Tiểu Thanh trở thành lời ai điếu cho mọi kiếp tài hoa bạc mệnh, trở thành giọt nước mắt khóc chính mình. Vì sao sắc tài thường khổ? Vì sao thân phận con người lắm những nỗi đau? Câu hỏi ấy vẫn treo lơ lửng giữa trời xanh. Bao giờ và ai là người giải đáp hữu hiệu?
Nguyễn Du đã rất đồng cảm với Nguyễn Gia Thiều (1741-1789) trong Cung oán ngâm khúc, khi ông này viết:
Thảo nào khi mới chôn nhau,
Đã mang tiếng khóc ban đầu mà ra.
Cái quay búng sẵn trên trời,
Mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm.
Với Đặng Trần Côn- Đoàn Thị Điểm (?) trong Chinh phụ ngâm:
Xanh kia thăm thẳm tầng trên,
Vì ai gây dựng cho nên nỗi này?
Câu hỏi ấy Thiên hà ngôn tai (!). Còn nhớ Hêghen, nhà triết học Đức thế kỉ XIX có nhận xét rằng: trong văn học hiện tượng định mệnh là hiện tượng bi kịch của người tốt. Với Nguyễn Du, những bậc kì tài tuyệt sắc luôn luôn phải chịu cái gọi là cổ kim hận sự, phong vận kì oan mà ông không tìm thấy lời giải đáp hữu hiệu trong triết lí thiên mệnh của Nho giáo, duyên nghiệp quả báo của Phật giáo, tướng số của Đạo giáo triết lí ở hiền gặp lành trong dân gian... Dường như, nhà thơ của chúng ta đã linh cảm được giải tần mờ của cuộc đời đầy bí ẩn. Lịch sử có những sự trùng hợp lạ kì. Năm 1965, khi cả thế giới long trọng kỉ niệm 200 năm ngày sinh đại thi hào danh nhân văn hoá thế giới Nguyễn Du, cũng chính là năm nhà toán học người Mĩ Lôtfi Zadeh công bố lí thuyết lôgic mờ trong một bài báo có tên Các tập mờ.Điều kì lạ hơn nữa là mãi đến đầu thế kỉ XX Fran Kapka (1833 - 1924), một nhà văn gốc Do Thái nói tiếng Đức sống ở Tiệp Khắc cũ dưới ách đô hộ Áo - Hung, được Phương Tây suy tôn là một trong ba ông tổ của văn học hiện đại chủ nghĩa, mới phát hiện ra điều mà Nguyễn Du đã nói trước đó hơn một trăm năm. Trong các tác phẩm của mình F. Kapka đã thể hiện:
Cảm giác về sự không có tự do của con người, về sự lệ thuộc của con người vào những thế lực bất hợp lí nào đó ở ngoài con người và chi phối bắt con người phục tùng.
Trong Vụ án, nhà văn này viết câu chuyện về một viên chức ngân hàng, mang cái tên Jô zep K. bỗng dưng bị một toà án vô hình kết tội. K. không biết mình có tội gì. Toà án cũng không biết...Cuối cùng K. bị dẫn đi hành quyết đúng vào sinh nhật lần thứ ba mươi của mình. Đao phủ chọc dao vào ngực K.và ngoáy một cái. Kap ka kết thúc thiên truyện của mình băng một kết luận hết sức bi đát: K. chết như một con chó.
Thân phận K. là thân phận con người bị kết án bởi một toà án vô hình, tựa như tội tổ tông trong Thánh kinh đạo Gia tô, tựa như tội mà đạo Phật quan niệm trong câu Đức Thích Ca Mâu Ni trả lời con quạ: Con khổ vì con có cái thân của con, và dường như có cả sự khúc xạ những ám ảnh của Kapka về thân phận con người trong xã hội tư sản hiện đại, khi bóng đen của chủ nghĩa phát xít đang đến gần, trước thảm hoạ do mặt trái của nền văn minh công nghiệp, hậu công nghiệp gây ra.
Sự hội ngộ Nguyễn Du - Kapka phải chăng là sự gặp gỡ Đông – Tây? Điều này còn chứng tỏ chủ nghĩa duy lí phương Tây không phải bao giờ cũng hữu hiệu hơn cảm quan trực giác huyền diệu phương Đông khi khám phá hiện thực đời sống, khi thâm nhập vào những miền thẳm sâu của tâm hồn, tâm linh con người. Sự hội ngộ này khiến những bộ óc sùng ngoại nhất cũng phải bừng tỉnh. Không hiểu vì sao viết đến đây tôi bỗng cảm thấy câu thơ: Phương Đông là phương Đông- Phương Tây là phương Tây của một thi sĩ Anh quốc (Kiplinh) thật vô nghĩa.
Về hai câu thơ kết: Bất tri tam bách dư niên hậu – Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như (Không biết sau ba trăm năm lẻ nữa – Thiên hạ có một ai đó khóc thầm tố Như): Trước hết nói về hai chữ độc điếu. Nó không chỉ hiển hiện thành câu chữ ở cặp câu đề, nó thấp thoáng ẩn hiện trong cặp câu thực (Chi phấn hữu thần liên tử hậu, Văn chương vô mệnh lụy phần dư), nó âm vang trong cặp câu luận và đến đây nó lại thấp thoáng hiện ra trong cặp câu kết ở khát khao, ở băn khoăn day dứt không biết sau ba trăm năm lẻ có một ai đó dưới gầm trời này khóc thầm (khấp (泣) chứ không phải khốc) mình, Tố Như chỉ cần một ai đó (hà nhân (何人) chứ không phải là số đông, rất nhiều người. Hai chữ độc điếuchính là nhãn tự, huyệt đạo của thi phẩm này vậy. Phải chăng đó là hai chữ thể hiện được tâm sự về nhân thế, thời thế, thân thế của Tố Như tử? Ta cứ tự cho mình là người hiểu Nguyễn Du, kì thực chưa hẳn thế (Không ngẫu nhiên chút nào khi trong Truyện Kiều lại có những câu: Khi tỉnh rượu lúc tàn canh - Giật mình mình lại thương mình xót xa, Vui là vui gượng kẻo là – Ai tri âm đó mặn mà với ai? Chọn người tri kỉ một ngày được chăng? Cười rằng: Tri kỉ trước sau mấy người?”. Ta hiểu vì sao người xưa có thể chết vì tri kỉ tri âm).Thứ đến là ý kiến cho rằng đây là câu thơ thất niêm. Quả đúng thế. Người phát hiện ra điều này, rõ ràng rất giỏi về phép tắc làm thơ cách luật. Tuy vậy, lại cũng nên biết rằng: bài Hoàng Hạc Lâu một bài thất ngôn bát cú được coi là một trong 10 bài thơ hay nhất của thơ Đường, (tuy Thôi Hiệu không phải là một trong những gương mặt sáng giá nhất của Đường thi), thì câu thơ thứ tư: Bạch vân thiên tải không du du (Mây trắng ngàn năm bay chơi vơi)… cũng là câu thơ phạm luật. Điều này cho thấy tài năng, thiên tài có khi tuân thủ qui củ chung, nhưng cũng có khi vượt qua qui củ, họ tạo nên những phép tắc và luật lệ mới. Tiếp theo là thời điểm ba trăm năm lẻ... Một thời gian dài người ta cho rằng đó là khoảng thời gian từ khi Tiểu Thanh mất đến khi Nguyễn Du viết bài thơ này. Nhưng căn cứ vào tiểu sử của nàng do một số ghi chép của văn nhân nước Tàu, thì tính cách nào cũng không đủ ba trăm năm lẻ (1820 -1595 = 225 hoặc lên đến 360 năm, thậm chí là 400, hay 407, 408 năm, và để tránh sự võ đoán khiên cưỡng trước đây, hiện sách giáo khoa Ngữ văn 10 tập I cho rằng: Có lẽ là một con số ước lệ chỉ khoảng thời gian dài. Có người lại cho 300 năm là thời gian luân hồi ba kiếp của một con người theo quan niệm của Phật giáo (11), nhưng ở đây là tam bách dư niên (ba trăm năm lẻ) khác với tam bách niên. Quả đúng là con số ước lệ, nhưng tại sao lại ước lệ là ba trăm năm lẻ chứ không phải là trăm năm, bốn, hay năm trăm năm, thậm chí ngàn năm? vì chúng là những con số ước lệ thường thấy người xưa dùng trong thơ văn của họ (Ư bách niên trung tu hữu ngã – Khởi thiên tải hậu cánh vô thùy (Trong khoảng trăm năm này phải có ta – Ngàn năm sau lẽ nào chẳng có ai? –Xuất dương lưu biệt, Phan Bội Châu).Vậy nên lí giải thế nào? Có lẽ là thế này chăng? Theo quan niệm của người sáng lập ra Nho giáo là Khổng Tử, những bậc thánh nhân trong lịch sử phải năm trăm năm mới xuất hiện một lần, khi thánh nhân ra đời có điềm lành chỉ báo, đó là phượng hoàng kì lân hiện ra. Nguyễn Du rất chân thực, trung thực với mình và với tha nhân. Ông tự nhận mình không phải là thánh nhân, cũng không phải thường nhân, ông tự thấy mình thuộc lớp tài tử tri âm với giai nhân Tiểu Thanh. Phải chăng tài tử giai nhân khoảng ba trăm năm lẻ là chu kì để họ hội ngộ, tái xuất? Thời điểm ấy chưa tới, hãy chờ đợi. Lúc ấy, người ta giải mã Nguyễn Du chắc gì giống với chúng ta ngày nay?

Tôi sưu tầm được bản ĐỘC TIỂU THANH KÝ (dị bản) rất đúng niêm luật thơ Đường 
.
 Mời các bạn đọc cả 2 bản để so sánh và có ý kiến về chuyện này xem sao.Phải 

chăng do việc "tam sao thất bản"mà bản chính ĐỘC TIÊU THANH KÝ vẫn lưu hành 

cho đến nay lâm vào tình trạng cho rằng thất niêm , thất luật để mỗi người lý giải 

theo mỗi  cách? Chả lẽ một bậc kỳ tài như Nguyễn Du lại làm thơ thất luật thất niêm

 hay sao?


ĐỘC TIỂU THANH KÝ
(nguyên bản)

Tây Hồ mai uyển tẫn thành khư

Độc điếu song tiền nhất chỉ thư

Chỉ phấn hữu thần liên tử hậu

Văn chương vô mệnh lụy phần dư

Cổ kim hận sự thiên nan vấn

Phong vận kỳ oan ngã tự cư

Bất tri tam bách dư niên hậu

Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như

Nguyễn Du

ĐỘC TIỂU THANH KÝ
 (dị bản)

Độc điếu song tiền nhất chỉ thư

Tây Hồ mai uyển tẫn thành khư

Cổ kim hận sự thiên nan vấn

Phong vận kỳ oan ngã tự cư

Chỉ phấn hữu thần liên tử hậu

Văn chương vô mệnh lụy phần dư

Bất tri tam bách dư niên hậu

Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như


Nguyễn Du

Thứ Tư, 9 tháng 7, 2014

Argentina, Hà Lan và nỗi đau với Brazil

Argentina, Hà Lan và nỗi đau với Brazil

CĐV Brazil có thể không muốn thấy đội tuyển láng giềng Argentina vào chung kết World Cup ngay trên đất của họ, trong khi niềm hy vọng về thầy trò Scolari vừa bị dập tắt một cách phũ phàng.
Nếu Argentina có mặt trong trận chung kết, khoảng 40.000 CĐV mặc áo xanh trắng sẽ xuất hiện trên sân Maracana, thánh đường bóng đá của Brazil. Đó cũng là nơi xuất hiện trong giấc mơ của người dân xứ sở điệu múa samba khi World Cup khởi tranh. Giờ thì giấc mơ đó đã chấm dứt sau thất bại 1-7 của Brazil trước Đức tại bán kết.
Để giành vé vào chung kết, trước tiên Argentina cần đánh bại Hà Lan. Đây là một thách thức với HLV Alejandro Sabella song ông và các cầu thủ có đủ những gì cần thiết để giành chiến thắng.
higuain.jpg
Higuain vô lê ghi bàn vào lưới Bỉ ở tứ kết.
Trong trận đấu gần nhất với Bỉ, Argentina đã có một màn trình diễn mang tính lột xác. Các tuyến chơi cân bằng hơn, gắn kết và phòng ngự tập thể tốt hơn so với đối thủ. Trong hai đội có một tỏ ra xứng đáng với tấm vé bán kết ngay từ những phút đầu, và đó là Argentina.
Việc lọt vào nhóm bốn đội mạnh nhất thế giới rất quan trọng với Argentina. Vì nhiều lý do, dù thường xuyên chơi tốt, các đội tuyển của Argentina từ năm 1990 đến trước giải năm nay đã không làm được điều này.
Argentina năm nay có thể chưa chơi tốt như nhiều người đã hy vọng, nhưng họ đang có được may mắn cần thiết và như giới chuyên môn từng nói, HLV Sabella đang sở hữu một thủ môn tuyệt vời và một Messi có thể đưa họ đến trận chung kết.
Chấn thương của Angel Di Maria là một tổn thất đối với Argentina vì cầu thủ này có thể đánh bại đối phương bằng những pha rê dắt và trong đội không còn nhiều cầu thủ như vậy. Nhưng giới hâm mộ có một niềm tin rằng với lối chơi đã đem lại năm chiến thắng từ đầu giải, Argentina đang tiến tới trận chung kết.
Ở phía bên kia chiến tuyến, Hà Lan cũng đang gây ấn tượng mạnh. Họ đã có lần thứ hai liên tiếp vào bán kết và một lối chơi cuốn hút. Họ thích tấn công trực diện, tốc độ cao với Arjen Robben trong vai trò thủ lĩnh. Với những gì đang có, Hà Lan cũng có cơ hội tốt để vào chung kết.
ho.jpg
Các cầu thủ Hà Lan mừng chiến thắng sau loạt luân lưu với Costa Rica.
Louis Van Gaal là một HLV tuyệt vời. Quyết định thay Jasper Cillessen bằng Tim Krul trước loạt sút luân lưu trong trận đấu với Costa Rica cho thấy sự dũng cảm và niềm tin tuyệt vời. Sẽ rất dễ để nói "làm tốt lắm Van Gaal", nhưng nếu mọi chuyện đi theo một hướng khác, tất cả sẽ chỉ trích ông.
Van Gaal cho rằng sự thay đổi sẽ giúp đội bóng của ông có lợi thế tâm lý, chứ không quan tâm tới chiến thuật đá luân lưu. Và đó là những gì đã xảy ra.
Tâm lý học là một phần của bóng đá. Đó cũng là công việc của một huấn luyện viên khi đưa ra quyết định.Van Gaal xứng đáng được tôn vinh vì đã tin vào chính mình và dũng cảm thay đổi.
Thúy An

Đội tuyển bóng chuyền nữ Việt Nam vô địch VTV Cup

Vượt qua đối thủ mạnh Thái Lan trong trận chung kết với tỷ số 3-1, đội tuyển nữ Việt Nam đã có một giải đấu rất thành công tại VTV Cup 2014.

Lần đầu tiên tham dự giải, đội chủ nhà Việt Nam đã không đặt mục tiêu cụ thể, bởi ngay cả những nhà chuyên môn đều phải lo ngại với chất lượng đội tuyển giải năm nay. Lý do bởi, đội tuyển nữ đã tiến hành “thay máu” gần như toàn bộ đội hình, với những gương mặt gần như chưa bao giờ lên tuyển.
Đội tuyển bóng chuyền nữ Việt Nam vô địch VTV Cup, ảnh: An An
Đội tuyển bóng chuyền nữ Việt Nam vô địch VTV Cup, ảnh: An An
Những lo lắng của giới chuyên môn và người hâm mộ đã cho thấy ngay kết quả, khi tuyển nữ Việt Nam thua tâm phục khẩu phục trước tuyển trẻ Thái Lan ngay trận ra quân. Thế nhưng, với sự động viên kịp thời, tuyển Việt Nam lấy lại sự tự tin và có liền 4 trận thắng tại vòng bảng để xuất sắc vào bán kết.

Tại bán kết, thầy trò HLV Nguyễn Mạnh Hùng gặp lại Kazakhstan và tiếp tục thắng để vào chung kết với Thái Lan. Khác hẳn so với trận ra quân, các nữ tuyển thủ trẻ Việt Nam đã thi đấu đầy tự tin, ngang ngửa và thâm chí vượt qua cả đối thủ mạnh số 1 khu vực, châu lục.

Sau 4 séc đấu, với tinh thần thi đấu kiên cường, đội nữ Việt Nam đã giành chiến thắng chung cuộc với tỷ số 3-1 để bước lên ngôi vô địch.

Ở trong trận tranh HCĐ, Kazakhstan đã thất bại trước CHDCND Triều Tiên với tỷ số 0-3. Đội vô địch ở giải năm nay nhận phần thưởng 10.000 USD.


CÁO CHẾT BA NĂM QUAY ĐẦU VỀ NÚI

BÀN LẠI CÂU "CÁO CHẾT BA NĂM QUAY ĐẦU VỀ NÚI"

Published on 01/10,2014

 BÀN LẠI CÂU
"CÁO CHẾT BA NĂM QUAY ĐẦU VỀ NÚI"
Câu này học giả An Chi đã trả lời như sao chép bên dưới. Tuy nhiên vì nghĩ rằng trả lời của An Chi chưa thỏa đáng nên tôi xin bàn lại như sau:
Trước hết là bài của học giả An Chi

Cóc hay là cáo?

13:51 | 05/09/2013
Bạn đọc: Hiện nay có nhiều người chưa hiểu rõ câu “Cóc chết ba năm quay đầu về núi”. Rất mong học giả An Chi cho biết ý nghĩa của câu nói trên và nguồn gốc của nó. Xin cảm ơn.
Trần Minh Xuân (Vũng Tàu)
Học giả An Chi: Nhiều người chưa hiểu rõ câu “Cóc chết ba năm quay đầu về núi” là phải. Về vấn đề này, trong bài “Tại sao một số thành ngữ, tục ngữ lại khó hiểu?” (Thông tin Khoa học & Công nghệ, Thừa Thiên - Huế, số 3/1996), chúng tôi đã viết như sau (ở đây có chỉnh sửa đôi chút):
“Đó là do người viết văn thời nay đã vô tình hoặc cố ý bóp méo một số thành ngữ, tục ngữ, chủ yếu là thành ngữ, mà làm cho chúng trở nên dị dạng so với hình thức gốc. Những dạng thức mới này thực chất chỉ là những thành ngữ dỏm vì người viết không nắm vững từ ngữ nên đã viết sai một cách vô ý thức hoặc vì người viết tuy có vốn từ ngữ phong phú nhưng lại “cải biên” thành ngữ không đúng điệu, nên cuối cùng cũng làm cho chúng “không giống ai”. Từ điển thành ngữ Việt Nam của Viện Ngôn ngữ học do Nguyễn Như Ý chủ biên đã ghi nhận câu “Cóc ba năm lại quay đầu về núi” (lấy ở báo Tiền phong ngày1/7/1977). Hình thức gốc (và đúng) của câu này là “Cáo chết ba năm quay đầu về núi”. Ta đâu có thể nào tự tiện đổi “cáo” thành “cóc” được, vì nếu có thể hoán vị một cách tùy tiện như thế thì biết đâu sẽ chẳng có người hứng chí mà tuyên bố rằng “con cáo là cậu ông trời” để làm một cuộc đổi đời vì xưa nay ai cũng biết rằng, cậu của ông ta chỉ là con… cóc trong ngôn ngữ dân gian mà thôi”.
Chúng tôi đã viết như thế cách đây 17 năm, còn lần này xin nói thêm như sau. Nếu những người tập hợp thành ngữ thành từ điển để làm khuôn vàng thước ngọc cho người xài tiếng Việt noi theo mà kỹ lưỡng đến nơi đến chốn thì có thể là họ đã gạt bỏ câu này một cách không thương tiếc. Hay là họ muốn tận dụng những câu như thế này để làm cho sách của mình dày thêm? Chính vì những sự “buông thả” như thế mà nhiều câu thành ngữ “khuyết tật” mới có cơ hội len lỏi vào kho văn học dân gian rồi được “phát tán”. Câu này cũng vậy. Xin bạn đọc bài “Tâm thức cội nguồn” của PVM trên Thanh niên Online ngày 26/2/2012. Tác giả này đã viết:
“Cóc chết ba năm còn quay đầu về núi” - câu ngạn ngữ đầy ẩn dụ. Bởi cóc có một bản năng “tìm về mái nhà xưa” rất đáng nể. Hãy bắt một “cậu” cóc thường tá túc nơi góc hiên nhà, lấy sơn trắng bôi lên đầu làm dấu rồi di dời cậu ta ra ngoài gò mả thật xa. Đảm bảo vài ba ngày sau lại thấy cậu lim dim cặp mắt ngồi lù lù nơi chỗ cũ”.
Cứ làm như đó là một câu thành ngữ đích thực! Chúng tôi nêu thí dụ trên đây làm một dẫn chứng để cho thấy cái câu trẹo trọ kia đã được một số người sử dụng mà không hề quan tâm đến mối quan hệ giữa chủ thể “cóc” với quê hương của nó là “núi” (dĩ nhiên là chỉ theo lời của câu trẹo trọ kia). Thực ra, môi trường sinh sống của cóc chủ yếu là đồng bằng và rừng rậm chứ không phải núi. Huống chi nếu cóc chết đi thì xác của nó sẽ phân hủy trong một thời gian ngắn chứ làm sao có chuyện đã chết ba năm rồi mà nó còn quay đầu về núi! Vậy ta phải quẳng cóc đi mà trả chỗ cho cáo.
Về câu “Cáo chết ba năm quay đầu về núi” thì trên Kiến thức Ngày nay số 304 (10/1/1999), chúng tôi đã viết (có sửa chữa):
“Câu này bắt nguồn ở thành ngữ tiếng Hán “hồ tử thú khâu” [狐死首丘] (cáo chết hướng [về] gò), thường nói tắt thành “thú khâu” 首丘 (= hướng về phía gò). “Hồ tử thú khâu” thực chất là một lối dụng điển vì thư tịch Trung Hoa xưa từng nói đến chuyện này. Thiên “Đàn Cung” trong sách Lễ ký viết: “Người đời xưa có lời nói rằng cáo chết hướng về đúng gò; ấy là nhân vậy” (Cổ chi nhân hữu ngôn viết: Hồ tử chính khâu thú; nhân dã). Bài “Ai Dĩnh” trong phần “Cửu chương” của Sở từ có câu “Cáo chết ắt quay về phía gò” (Hồ tử tất thú khâu). Truyện Khấu Vinh trong Hậu Hán thư có câu “Không bằng cái tình của con cáo chết mà (còn biết) hướng về gò” (Bất thắng hồ tử thú khâu chi tình). Thiên “Thuyết lâm” trong sách Hoài Nam Tử có câu “Chim bay về quê, thỏ chạy về hang, cáo chết hướng gò” (Điểu phi phản hương, thố tẩu quy quật, hồ tử thú khâu). Chữ nghĩa rành rành như thế thì sao lại có thể tùy tiện mà đổi cáo thành “cóc” được?”.
Cách đây 14 năm, chúng tôi đã viết như trên. Lần này xin nói thêm như sau. Với những văn liệu đã thấy, ta khó có thể nói rằng câu “Cáo chết ba năm quay đầu về núi” không phải do tích Tàu, sách Tàu mà ra. Có điều là tiền nhân của người Việt đã thêm mắm thêm muối nên làm cho câu thành ngữ càng khó hiểu với hai tiếng “ba năm”. “Hồ tử thú khâu” thì dịch thành “Cáo chết hướng (về) gò” là đủ rồi. Sao phải thêm “ba năm”? “Ba năm” là làm sao? Ba năm thì đã thịt nát xương tan tuyệt tích rồi còn đâu. Mà đây là lấy chuyện thực tế để ví von chứ đâu có phải chuyện vô hình, siêu nhiên mà hòng đem chuyện hồn của con cáo đã chết ra nói! Lại nữa, “khâu” cũng đâu phải là “núi” mà là “gò” và chỉ là một hoán dụ để chỉ cái hang của con cáo mà thôi. Câu thành ngữ này dùng để chỉ những người yêu quê hương, không phải là những kẻ vong bản, những người tuy sống ở tha phương nhưng muốn lúc chết thì được chôn ở quê nhà.
Thế nhưng trên trang tw.myblog.yahoo.com/mchuchen, người ta lại đem câu “Cáo chết ba năm quay đầu về núi” ra dịch ngược trở lại sang tiếng Tàu thành “Hồ ly tử tam niên nhưng trạo đầu hướng sơn khâu” [狐狸死三年仍掉頭向山丘] rồi còn giải thích rằng, nó tương ứng với câu “Hồ tử thú khâu” của Tàu nữa! Không biết Tàu đọc đến đó có phì cười hay không, nhất là với hai tiếng “ba năm”?
 A.C
 Nguồn : http://petrotimes.vn/news/vn/hoc-gia-an-chi-giai-dap/coc-hay-la-cao.html

Như thế là sau năm lần bàn về câu này, An Chi đã làm rỏ nghĩa của câu “ Cáo chết ba năm quay đầu về núi” trong đó có 4 chi tiết :
1 -  Nguồn gốc câu “ Cáo chết ba năm quay đầu về núi ” “Câu này bắt nguồn ở thành ngữ tiếng Hán “hồ tử thú khâu” [狐死首丘] (cáo chết hướng [về] gò), thường nói tắt thành “thú khâu” 首丘 (= hướng về phía gò).Còn câu “hồ tử thú khâu” thì xuất xứ từ tích nào?
2 - Cáo Chữ nghĩa rành rành như thế thì sao lại có thể tùy tiện mà đổi cáo thành “cóc” được?”. 
3– Ba năm : Có điều là tiền nhân của người Việt đã thêm mắm thêm muối nên làm cho câu thành ngữ càng khó hiểu với hai tiếng “ba năm”. “Hồ tử thú khâu” thì dịch thành “Cáo chết hướng (về) gò” là đủ rồi. Sao phải thêm “ba năm”? “Ba năm” là làm sao? Ba năm thì đã thịt nát xương tan tuyệt tích rồi còn đâu.
4 – Núi Lại nữa, “khâu” cũng đâu phải là “núi” mà là “gò” và chỉ là một hoán dụ để chỉ cái hang của con cáo mà thôi. 
Tuy bác cả 4 yếu tố trên nhưng An Chi vẫn công nhận câu thành ngữ ấy và giải thích “Câu thành ngữ này dùng để chỉ những người yêu quê hương, không phải là những kẻ vong bản, những người tuy sống ở tha phương nhưng muốn lúc chết thì được chôn ở quê nhà”.
Riêng tôi nghĩ rằng người Việt xưa nói “ Cáo chết ba năm quay đầu về núi” chắc có cái lý của nó và vì nó không giống với câu của Trung hoa nên chắc là không phải lấy từ điển tích của phương Bắc.
Để giải thích câu này theo tôi cũng có 4 vấn đề cần được giải quyết.
1 – Nguồn gốc câu này từ đâu?
2 - Tại sao không phải con gì mà phải là Cáo?
3 – Tại sao không phải là 1,2 hay 4,5 mà lại là 3 năm?
4 – Tại sao không quay về đâu mà lại quay về núi?

1 – Nguồn gốc câu này từ đâu?
Theo tôi câu “ Cáo chết ba năm quay đầu về núi” có nguồn gốc từ kinh dịch, cụ thể là quẻ CẤN , tượng của Cấn là núi và đại diện cho quẻ cấn theo người Việt xưa chính là con cáo, điều này đã được ghi lại trong câu chuyện "Cóc kiện Trời". Đây là câu chuyện nguồn gốc Tiên Thiên bát quái của người Việt được thể hiện qua chuyện dân gian, vì vậy 3 câu hỏi còn lại cũng nằm trong câu chuyện này.
2 - Tại sao không phải con gì mà phải là Cáo?
Trong truyện cổ dân gian Việt Nam có câu chuyện Cóc kiện Trời. Theo tôi câu chuyện này nhằm ghi lại Tiên Thiên Bát Quái (TTBQ) của người Việt. Xin trích một đoạn như sau :
Ngày xửa ngày xưa, con cóc vẫn sần sùi xấu xí như ngày nay, nhưng cóc nổi tiếng giữa muôn loài là một con vật tuy bé nhỏ nhưng rất gan dạ. Gan cóc tía mà lại. Thông thường năm nào, Ngọc hoàng Thượng đế  = Vô cực  cũng sai thần Mưa làm mưa cho muôn loài, cây cối, nhưng vào một năm không nhớ rõ năm nào, trời làm hạn hán khủng khiếp. Nắng lửa hết tháng này đến tháng khác, hút cạn nước sông ngòi, đầm hồ, mọi cây cỏ đều khô héo cả, đất nứt như một khe vực. Muôn loài không còn một giọt nước để uống. Các con vật to lớn hùng mạnh xưa nay tác oai tác quái trong rừng đều nằm lè lưỡi mà thở để đợi chết, không ai nghĩ được kế gì để cứu mình, cứu muôn loài. Sức mạnh của chúng chỉ để bắt nạt nhau thôi chứ đâu có thể làm gì nổi ông trời.. Duy có anh chàng Cóc tía bé nhỏ, xấu xí kia là có gan to. Anh tính chuyện lên thiên đình kiện Trời làm mưa cứu muôn loài... Khởi đầu chỉ có một mình alt Thái cực,nhưng anh đâu có nản. Anh đi ngày đi đêm, Lưỡng nghi ( câu này tôi thêm vào) một hôm đi qua một vũng đầm khô Cóc tía gặp Cua càng ☰ (càn) Cua hỏi Cóc đi đâu. Cóc bèn kể rõ sự tình, và rủ Cua cùng đi kiện Trời. Ban đầu Cua định bàn ngang. Thà chết ở đây còn hơn chứ Trời xa thế đi sao tới mà kiện với tụng. Nhưng những con vật ở quanh Cua nghe Cóc nói lại tranh nhau mà bàn ngang bàn lùi, làm cho Cua nổi giận. Nói ngang bàn ngang là chuyện ngang của Cua thế mà họ lại dám tranh mất cái quyền ấy, cái quyền được phép ngang như cua cơ mà. Thế là Cua làm ngược lại, Cua tình nguyện cùng đi với Cóc.
Ði được một đoạn nữa, Cóc lại gặp Cọp  (tốn)đang nằm phơi bụng thở thoi thóp. Gấu(khảm) đang chảy mỡ ròng ròng và khát cháy họng. Cóc rủ Gấu và Cọp đi kiện trời. Cọp còn lưỡng lự thì Gấu đã gạt đi mà nói rằng:
- Anh Cóc nói có lý, chẳng có lẽ chúng mình cứ nằm ở đây đợi chết khát cả ư... Ta theo anh Cóc thôi. Ðến ngang như anh Cua còn theo anh Cóc được thì tại sao chúng mình không theo.
Cả bọn nhập lại thành đoàn. Ði thêm một chặng nữa thì gặp con Cáo (cấn) bị lửa nướng cháy xém lông và đàn Ong  (khôn)khô hết mật. Cả hai con vật này cũng hăng hái nhập vào đoàn loài vật đi kiện Trời do Cóc dẫn đầu. (http://viennhu.vnweblogs.com/post/11641/428380).
(Thông thường thì người ta đọc TTBQ theo chiều ngược kim đồng hồ : Càn – đoài – ly – chấn – tốn - khảm – cấn – khôn. Tuy nhiên theo dẫn dắt của câu chuyện thì lại theo chiều kim đồng hồ : Càn – tốn - khảm - cấn – khôn ..) Khảm là hướng Tây, Cấn là Tây Bắc. Cấn là Cáo. Khôn = Bắc thuộc thủy, nên khi thủy dâng lên làm chết Cáo, đây chính là câu chuyện Tiên Thiên bát Quái thông qua truyền thuyết về Hồ Tây hay Đầm xác cáo. Rỏ ràng cáo chính là quẻ CẤN.
Cứ theo câu chuyện trên thì rỏ ràng người Việt xưa đã sử dụng hình ảnh những con vật để tiêu biểu cho các quẻ trong bát quái và con Cáo đại diện cho quẻ Cấn. mà đã là  quẻ Cấn thì con vật tiêu biểu cho nó là Cáo chứ không thể là con gì khác.
3– Tại sao không phải là 1,2 hay 4,5 mà lại là 3 năm?
Mỗi quẻ chỉ có 3 hào, quẻ Cấn cũng thế, quá khứ - hiện tại – tương lai chỉ có thế, mãi mãi vẫn thế, cũng như con người sinh ra mãi mãi chỉ có một quê hương. Chính vì vậy mà có “ba năm”. Ba năm ở đây không phải là số đếm mà có nghĩa là mãi mãi, cũng như ta nói trăm năm hạnh phúc vậy.
4– Tại sao không quay về đâu mà lại quay về núi?
Theo bát quái quẻ Cấn là tượng trưng cho Núi ( Cấn vi sơn) nên dĩ nhiên là cáo phải quay đầu về núi chứ về đâu nữa.
Như thế ta thấy câu “Cáo chết ba năm quay đầu về núi” là có cơ sở. Nguồn gốc của nó chính là quẻ Cấn, nghĩa của nó là dù đi đâu, ở đâu cho đến khi chết, trong lòng con người cũng chỉ có một cội nguồn để hướng về; Đồng thời người Việt đâu có lấy câu "Hồ tử thú khâu” của Trung hoa rồi thêm mắm thêm muối để dịch thành câu "Cáo chết ba năm quay đầu về núi" đâu. Chính vì vậy so với các câu mà học giả An Chi trích dẩn thì chưa biết ta lấy của phương Bắc hay ngược lại./.



  



BÁN KẾT WORLD CUP 2314

“Quái kiệt Robben” khiến Argentina lo lắng

(Bongdaplus.vn) - Sau khi ghi 3 bàn ở vòng bảng, Arjen Robben “tịt ngòi” ở 2 trận giai đoạn knock-out. Nhưng cựu danh thủ Marco van Basten vẫn cho rằng Robben là người có nhiều ảnh hưởng nhất trên sân. Và không ai khác, Robben sẽ mang lại cho Argentina sự lo lắng.
“Kịch sĩ” Robben luôn sẵn sàng… ngã để kiếm penalty
*  Nhật ký World Cup ngày 9/7
*  Cập nhật danh sách chuyển nhượng mùa Hè 2014
*  Nhận định & Bình luận trước trận Argentina - Hà Lan

NGÔI SAO CHỦ LỰC 
Van Basten từng dẫn dắt Hà Lan ở World Cup 2006, giải đấu mà Oranje dừng chân ngay vòng 1/8, một phần không nhỏ vì Arjen Robben và Robin van Persie kèn cựa nhau nên không phát huy được sức mạnh. Ở World Cup 2014, Van Perise và Robben đã hợp tác suôn sẻ, trong đó Robben nổi lên sáng chói hơn Van Persie. Van Basten đánh giá: “ Robben đang chơi hay chưa từng thấy . Anh ấy luôn tin tưởng vào khả năng đánh bại đối phương. Những quyết định của Robben thường rất hợp lý và táo bạo, làm xoay chuyển cục diện”. 

Van Basten muốn ám chỉ đến khả năng kiếm đá phạt và phạt đền của Robben. Anh đang là nỗi ám ảnh của các trọng tài với các pha ngã, đến mức có ý kiến cho rằng FIFA nên sửa luật để xử lý những ca này. Thẻ vàng bị xem là quá nhẹ, vì một tình huống ăn vạ thành công có thể dẫn đến phạt đền đem lại thắng lợi chung cuộc, trong khi nếu “gian dối” bất thành thì chỉ bị thẻ vàng.


KỊCH SỸ TÀI BA
Robben gây tranh cãi lớn khi ngã sau pha cản phá của Rafael Marquez vào cuối trận gặp Mexico. Hệ quả là Oranje được hưởng phạt đền. Robben không thừa nhận “ăn vạ” ở pha bóng kể trên, pha chiếu chậm cũng không khẳng định điều đó nhưng không thể không nghi ngờ ngôi sao này, bởi sau đó anh thừa nhận đã “ăn vạ” ở một pha bóng khác cũng trong trận gặp Mexico.

Robben nổi tiếng là chuyên gia ngã vờ dù cũng từng nhiều lần bị phạt thẻ (như ở trận Bayern-Dortmund tại Cúp QG Đức 2011). Ở World Cup 2010, anh ngã tài tình sau pha tranh chấp với Michel Bastos, kết quả Hà Lan được hưởng đá phạt và ghi bàn gỡ 1-1, sau đó thắng ngược 2-1 trước Brazil ở tứ kết. HLV Carlos Dunga của Brazil khi ấy gọi Robben là “một cầu thủ giỏi nhưng cũng là một kịch sĩ vĩ đại”. 

Nói gì thì nói, Robben không chỉ biết đóng kịch. Khác với thường lệ, ở Brazil 2014, ngôi sao “chân thủy tinh” này có thể lực cực kỳ sung mãn, anh không ngại va chạm và qua từng trận đấu càng... khỏe hơn. Anh chính là cơn ác mộng với mọi đối thủ, có thể ghi những bàn siêu tưởng siêu nhanh (như pha solo với “tốc độ Usain Bolt” ở trận gặp Australia ở vòng bảng). Robben hoạt động rất rộng, được chơi tự do và được cho phép sáng tạo tối đa. Anh đang gánh vác sức mạng lớn dẫn dắt hàng công Hà Lan. Về mặt nào đó, Robben cũng quan trọng với Hà Lan như Messi với Argentina, chỉ khác một chi tiết: Robben khỏe hơn!